BREAKING NEWS

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011

Trẻ biếng ăn và nguy cơ mắc các bệnh mãn tính

Tại VN, theo nghiên cứu mới cho thấy tỷ lệ bé biếng ăn trong độ tuổi từ từ 1 - 6 là 38%. Quan trọng hơn, có 40% những bé biếng ăn này có dấu hiệu biếng ăn ngay từ khi dưới 3 tuổi. Theo các nghiên cứu trên thế giới, có 20 -45% bé biếng ăn trong độ tuổi từ 1 - 5.
Đây là số liệu vừa được công bố tại Hội thảo giới thiệu quyển sách Chẩn đoán và Điều trị các rối loạn nuôi ăn ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ tại TP.HCM và Hà Nội do Viện bào chế Abbott và Hội Dinh dưỡng đã phối hợp tổ chức vừa qua. Hội thảo thu hút hơn 1.000 các bác sĩ chuyên khoa Nhi và các chuyên gia dinh dưỡng trong toàn quốc.

 Cha mẹ không nên để tình trạng biếng ăn của trẻ kéo dài
Trong quyển sách của mình, GS. Irene Chatoor (Phó chủ tịch Khoa Tâm thần học, Giám đốc điều hành Chương trình Sức khỏe tâm thần dành cho trẻ nhỏ và nhũ nhi thuộc Trung tâm Y học quốc gia dành cho trẻ em Mỹ) đã phân loại và phân tích nguyên nhân gây nên việc từ chối ăn ở trẻ (ví dụ như biếng ăn nhũ nhi, ác cảm với thức ăn, rối loạn nuôi ăn do điều chỉnh trạng thái hoặc do bệnh lý nội khoa, rối loạn nuôi ăn sau chấn thương…). Chính việc chẩn đoán giúp xác định đúng được nguyên nhân gây nên chứng biếng ăn ở trẻ là cơ sở để BS. Chatoor đưa ra các hình thức điều trị phù hợp. Là kết quả của nhiều năm nghiên cứu tâm huyết về đề tài các rối loạn nuôi ăn ở trẻ nhỏ, quyển sách này đã được GS. Chatoor báo cáo tại nhiều hội nghị quốc gia và quốc tế, và dùng để huấn luyện các chuyên gia trong chẩn đoán và điều trị các rối loạn ăn uống. Tác giả Irene Chatoor cũng đã đoạt giải thưởng Irving B. Harris của nhà xuất bản Zero To Three vì đã đưa ra những vấn đề mới, quan trọng tạo nên sự khác biệt lâu dài trong cách chăm sóc trẻ nhũ nhi, trẻ nhỏ và gia đình.
Có một điều đặc biệt là hầu hết các bậc cha mẹ đều cho rằng thiếu hụt dinh dưỡng hay các dưỡng chất chỉ xảy ra khi trẻ ăn ít. Nhưng, ngay cả việc trẻ chỉ ăn một vài món nhất định như ăn thịt mà không ăn rau… cũng dẫn tới thiếu hụt dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ.
Theo TS. Từ Ngữ, Tổng Thư ký Hội Dinh dưỡng VN: “Biếng ăn kéo dài có thể dẫn đến các hệ quả nghiêm trọng về mặt thể chất, chẳng hạn như sút kém trong phát triển và chậm hấp thu dưỡng chất. Ảnh hưởng đến cảm xúc của trẻ cũng là một vấn đề đáng quan tâm”. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nếu bố mẹ tỏ ra lo lắng thái quá, và tiến hành các biện pháp cưỡng bức ăn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến mối tương tác giữa họ và trẻ nhỏ.
Hầu hết các bậc cha mẹ cho rằng, biếng ăn chỉ ảnh hưởng đến thể trạng của bé như chiều cao và cân nặng nhưng thực tế, hậu quả của nó còn nguy hiểm hơn nhiều. Biếng ăn ban đầu dẫn tới sụt cân nhưng nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây tác động nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ, khiến trẻ đánh mất nhiều cơ hội so với bạn bè cùng trang lứa. Một số nghiên cứu còn cho thấy, biếng ăn có thể dẫn tới những biến chứng trong quá trình phát triển của trẻ, gia tăng các bệnh mãn tính.
Do số lần ăn và số lượng ăn không đủ nên biếng ăn sẽ dẫn tới thiếu hụt chất khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, chậm phát triển chiều cao và cân nặng; giảm khả năng hấp thụ chất. Biếng ăn cũng là nguyên nhân khiến trẻ bị giảm sức đề kháng. Vì thế, những bé biếng ăn thường có số ngày bệnh nhiều hơn 29% và có nguy cơ viêm nhiễm đường hô hấp nhiều hơn 45% so với bé bình thường.
Ngay khi thấy con mình có những dấu hiệu biếng ăn, cha mẹ cần đưa bé đến các cơ sở y tế để được chuẩn đoán và chữa trị kịp thời nhằm tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Nhưng, điều quan trọng nhất trong quá trình chữa trị, cha mẹ cần tăng cường dinh dưỡng cho trẻ bằng việc bổ sung các loại thức ăn đủ chất, đủ lượng với 4 nhóm thực phẩm: đạm, đường, chất béo, vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, vì trẻ đang biếng ăn, khả năng hấp thụ kém nên cha mẹ cần chú trọng bổ sung những thực phẩm giàu dinh dưỡng, chẳng hạn như sữa dành cho trẻ biếng ăn để “lấp đầy” những “lỗ hổng” về sự thiếu hụt dưỡng chất của bé.
GIA HÂN (ghi)
 
 

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Dinh dưỡng cho con, những sai lầm thường gặp

Quan sát tại Phòng Khám thuộc Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM, số trẻ được bố mẹ đưa đến khám, tư vấn do rối loạn dinh dưỡng (suy dinh dưỡng, béo phì, thừa cân…) chiếm tỉ lệ khá lớn. Nguyên nhân chính thường xuất phát từ những quan niệm sai lầm về dinh dưỡng của các bậc cha mẹ hoặc những người chăm sóc trẻ.
Cho bé ăn dặm càng sớm càng tốt
Sai. Cho trẻ ăn dặm quá sớm có thể dẫn tới rối loạn hấp thu, tiêu chảy vì lúc này men tiêu hóa của bé chưa hoàn thiện, không thể hấp thu tinh bột. Ngược lại, ăn dặm quá trễ sẽ làm bé bị suy dinh dưỡng, sẽ không chịu ăn gì khác ngoài sữa trong khi sữa vào giai đoạn này không còn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của bé.
Khi bé được 6 tháng tuổi, bạn mới nên cho bé ăn dặm
Độ tuổi phù hợp để bắt đầu ăn dặm là từ 6 tháng tuổi và chỉ cho ăn vài muỗng bột mỗi ngày để bé tập quen dần. Bà mẹ cần lưu ý sữa vẫn luôn là thức ăn chính trong giai đoạn này. Thấy bé ăn bột mau lên cân, nhiều bà mẹ hay có xu hướng cho bé ăn toàn bột, chẳng bao lâu sau sẽ sinh ra nhiều thứ bệnh rắc rối. Chế độ ăn dặm đúng cách cho bé phải gồm bốn nhóm thức ăn bột – đạm – dầu – rau. Khi tập ăn một loại thức ăn mới, nên tập từ ít một khoảng 3-5 ngày cho bé quen dần, sau đó mới tập thức ăn khác. Nếu lúc đầu tập thức ăn mới bé tỏ vẻ không thích, mẹ cần kiên nhẫn tập dần cho bé để bữa ăn được đa dạng.
Không cho trẻ ăn dầu mỡ để tránh béo phì
Sai. Các bé cần khoảng 30-40% lượng calo từ chất béo hàng ngày để đáp ứng bộ não và cơ thể đang phát triển nhanh chóng bởi não bộ có những yêu cầu đặc biệt từ axit béo và các thành phần khác của chất béo. Lượng chất béo phù hợp cho trẻ ăn dặm dưới 1 tuổi là 3,5g/kg mỗi ngày. Tốt nhất là cho trẻ ăn chất béo từ dầu thực vật, mỡ cá, có chứa hàm lượng Omega 3 cao giúp tăng sức đề kháng, giảm thiểu các căn bệnh viêm nhiễm, hỗ trợ hệ tuần hoàn hoạt động tốt hơn.
Khi trẻ bị ốm, nên cho trẻ ăn ít
Đúng & Sai. Không nên kiêng ăn vì bé cần dinh dưỡng để chống lại bệnh tật. Tuy nhiên, do bị bệnh nên bé không cảm thấy ngon miệng, bạn không cần quá lo lắng mà ép bé ăn. Tóm lại, khi bé bệnh, nên cho bé ăn loại thức ăn và liều lượng mà bé thích. Nếu bé ăn quá ít thì có thể ăn thành nhiều bữa gần nhau, có thể cho bé ăn nhiều món trong một bữa để bổ sung dinh dưỡng.
Vẫn còn rất nhiều những quan điểm dinh dưỡng cho con khác khiến không ít bà mẹ phải phân vân. Chuyện dinh dưỡng cho trẻ tưởng đơn giản, nhưng thực tế lại không đơn giản chút nào. Một số bà mẹ thắc mắc tại sao con mình được ăn uống rất đầy đủ dưỡng chất mà vẫn thấp bé nhẹ cân hơn bạn bè cùng trang lứa. Cũng có một số cha mẹ đánh đồng sự tròn trĩnh, mập mạp với tình trạng sức khỏe tốt…
Bên cạnh việc bổ sung dinh dưỡng cho con, sức khỏe cũng là một yếu tố quan trọng, giúp bé có thể hấp thu dưỡng chất một cách tối ưu. Phòng bệnh hơn chữa bệnh – các bậc cha mẹ không nên lơ là trong việc chăm sóc, bảo vệ bé. Nếu chẳng may bé bị bệnh (ốm), cho dù có cung cấp dinh dưỡng tốt đến thế nào, sự phát triển của bé cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Theo: 
Eva

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

6 dưỡng chất cần thiết cho trẻ

Rau cải là một nguồn cung cấp acid follic dồi dào nhất cho bé
Giadinh.net - Hãy cho trẻ ăn đa dạng thực phẩm để cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể

Ở độ tuổi lên sáu, trẻ cần được bổ sung đầy đủ dưỡng chất để cơ thể phát triển toàn diện hơn. Trong độ tuổi đến trường, bé cần được bổ sung các dưỡng chất quan trọng để có thể phát triển về thể chất lẫn tinh thần. Những thực phẩm không cung cấp đủ chất dinh dưỡng hoặc không thích hợp sẽ ảnh hưởng đến trí thông minh của trẻ.

1.Glucose: Não có thể phát triển tùy vào lượng glucose (đường trong máu). Đây được xem như nguồn "nhiên liệu" cần thiết. Bỏ một bữa ăn sáng có thể gây ra thiếu hụt glucose, đồng thời làm suy giảm nhận biết, khó tập trung.

Gan của trẻ chỉ tồn trữ lượng glucose này khoảng 4 giờ. Do đó, bé cần được ăn uống đầy đủ trước khi đến trường. Ở nhà, các bữa ăn của trẻ nên cách nhau từ 4 đến 5 giờ để giữ lượng đường quân bình trong máu và đủ để não hoạt động đúng chức năng.

2. Chất sắt: Tình trạng thiếu chất sắt chủ yếu ở trẻ em, sắt đóng vai trò vận chuyển oxy trong máu đến các tế bào. Thiếu chất này, trẻ sẽ giảm tập trung, mất nhiệt huyết để đối đầu với thử thách và giảm động lực học hỏi.

Có thể chọn ngũ cốc cho bữa điểm tâm để tăng cường chất sắt cho cơ thể trẻ. Ngoài ra, trong bữa chính, bé nên dùng nhiều thịt có màu đỏ, cá hồi, cá ngừ, thịt gà, rau cải có lá xanh đậm...

Có thể bạn chưa biết
Những loại trái cây tươi, rau cải, nhất là rau bó xôi và nước cam là nguồn cung cấp acid folic dồi dào nhất.

3. Acid folic: Chất này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các hồng cầu và bạch cầu. Vì thế, nếu bé nào cơ thể thiếu quá nhiều acid folic sẽ nhanh chóng cảm thấy mệt mỏi hoặc mau quên, dễ bị kích động,... sau khi tập trung học trong một thời gian ngắn.

4. Vitamin B: Loại vitamin này đóng vai trò "giải mã" năng lượng trong glucose. Thiếu hụt vitamin B, trẻ dễ "đổi tính", trở nên hung hăng, hiếu chiến, dễ thất vọng, chán nản...

Không có loại thức ăn nào cung cấp đủ nhóm vitamin B, vì vậy, bạn phải chọn nhiều loại thức ăn khác nhau. Ngoài ra, có thể cho bé uống bổ sung vitamin B theo chỉ định của bác sĩ.

5. Vitamin A: Dưỡng chất này đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển và củng cố hệ thần kinh. Vitamin A còn được tìm thấy dưới dạng beta-carotene trong các loại rau cải có lá màu xanh đậm, những loại trái cây có sắc vàng...

6. Kẽm: Sự thiếu hụt kẽm trong cơ thể bé có thể ảnh hưởng đến khả năng nhận biết hoặc có thể làm khả năng này suy kém đi. Thịt và hải sản là nguồn cung cấp kẽm rất lớn. Ngoài ra, bạn có thể cho trẻ dùng thêm các loại đậu, ngũ cốc nguyên hạt, bí đỏ...
 
Back To Top
Copyright © 2014 Sua non ausome. Designed by Lap trinh Mobile